THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM

Bệnh thoát vị đĩa đệm là một căn bệnh rất phổ biển từ xưa đến nay không chỉ người già mà nay bệnh thoát vị đĩa đệm ngày càng trẻ hóa, Vậy bệnh thoát vị đĩa đệm là gì? Đâu là những nguyên nhân gây bệnh, triệu chứng và biểu hiện của bệnh thoát vị đĩa đêm và cách chữa bệnh như thế nào? Tất cả đã được chúng tôi tổng quan lại trong bài viết dưới đây xin mời mọi người cùng tìm hiểu.

1. Bệnh thoát vị đĩa đệm là gì.

Thoát vị đĩa đệm là tình trạng nhân nhầy đĩa đệm cột sống thoát ra khỏi vị trí bình thường trong vòng sợi chèn ép vào ống sống hay các rễ thần kinh sống và có sự đứt rách vòng sợi gây nên hội chứng thắt lưng hông điển hình.

Thoát vị đĩa đệm cột sống xảy ra khi nhân keo của đĩa đệm thoát ra ngoài và chèn ép vào rễ thần kinh, tủy sống, hay nói cách khác nó là tình trạng đĩa đệm bị ép lồi ra khỏi vị trí bình thường, giữa các đốt sống. Thoát vị đĩa đệm thường tập trung ở các dạng chính là thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ và thoát vị đĩa đệm đốt sống thắt lưng, thoát vị đĩa đệm mất nước.

Thoát vị đĩa đệm là căn bệnh rất phổ biến, trong đó thoát vị đĩa đệm cột sống là một nguyên nhân phổ biến gây đau cột sống cổ, cột sống thắt lưng cũng như đau chân tay.

Đĩa đệm bình thường và đĩa đệm bị thoát vị

Có 4 giai đoạn tiến triển của bệnh thoát vị đĩa đệm bạn cần lưu ý:
1. Phình đĩa đệm
Lúc này, đĩa đệm có hiện tượng bị biến dạng, bè rộng ra xung quanh theo chiều ngang nhưng không hoàn toàn trở lại hình dạng ban đầu của nó khi không có lực ép, nguyên nhân là do yếu vòng xơ và dây chằng dọc sau.

2. Lồi đĩa đệm
Là hiện tượng vòng xơ bị phá vỡ, nhân nhầy chui ra ngoài tạo thành ổ lồi khu trú. Người bệnh sẽ cảm thấy đau lưng cục bộ, đôi khi cảm thấy tê tay chân do kích thích rễ thần kinh.

3. Thoát vị đĩa đệm thực sự
Vòng xơ bị phá vỡ hoàn toàn. Điều này khiến cho nhân nhầy và các tổ chức khác của đĩa đệm thoát ra khỏi khoang gian đốt sống, hình thành khối thoát vị.Ở giai đoạn này người bệnh thường đau nhức, mệt mỏi, vận động khó khăn do chèn ép các rễ thần kinh.

4. Thoát vị đĩa đệm có mảnh rời
Nhân nhầy trong đĩa đệm không chỉ bị thoát ra ngoài mà còn bị tách rời ra khỏi phần đĩa đệm. Nhân nhầy bị biến dạng, vòng xơ bị rách nhiều phía dẫn đến xẹp đốt sống, hẹp ống sống, hư khớp đốt sống. Đồng thời nhân nhầy thoát ra ngoài gây chèn ép tủy, rễ thần kinh khiến người bệnh đau dai dẳng, teo cơ, liệt cơ, mất khả năng vận động và có thể tàn phế.

2. Triệu chứng thoát vị đĩa đệm.

Thoát vị đĩa đệm gây nên các cơn đau thắt lưng với các triệu chứng nhức, tê lan dọc từ thắt lưng xuống mông và chân, hay đau từ vùng cổ – gáy lan ra hai vai và xuống các cánh tay, bàn tay… khiến người bệnh rất khó chịu, đau đớn.

Ngoài ra, đau cột sống và đau rễ thần kinh là các triệu chứng nổi bật nhất của bệnh. Đau thường tái phát nhiều lần, mỗi đợt kéo dài khoảng 1-2 tuần, sau đó lại khỏi bệnh. Có khi đau âm ỉ nhưng thường đau dữ dội, đau tăng khi ho, hắt hơi, cúi.

Ngoài ra còn có cảm giác kiến bò, tê cóng, kim châm tương ứng với vùng đau. Dần dần, đau trở nên thường xuyên, kéo dài hàng tháng nếu không được điều trị. Tuỳ theo vị trí đĩa đệm thoát vị có thể có các triệu chứng đặc trưng.

Khi bị thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ, người bệnh có biểu hiện đau vùng gáy, vai. Ðau, tê, mất cảm giác từng vùng ở cả tay, cổ tay, bàn tay. Giảm cơ lực tay. Các hiện tượng đau, nhức, tê tăng lên hay giảm xuống theo cử động cổ tay…

Khi bị thoát vị đĩa đệm đốt sống thắt lưng thì gây đau vùng thắt lưng và triệu chứng đau thần kinh liên sườn: cảm giác đau tăng khi nằm nghiêng, ho và đại tiện. Bệnh nhân sẽ thấy đau vùng cột sống lưng, lan theo hình vòng cung ra phía trước ngực, dọc theo khoang liên sườn. Ðau, tê, mất cảm giác từng vùng ở mông, chân, bàn chân, trường hợp nặng có thể bị liệt.

Ngoài ra bệnh nhân còn bị chế cử động cột sống: không còn khả năng ưỡn của thắt lưng, không cúi được xuống thấp… Bệnh nhân sẽ thấy đau thắt lưng cấp hay mạn tính, đau thần kinh tọa, đau thần kinh đùi bì. Người bệnh có tư thế ngay lưng hay vẹo về một bên để chống đau, cơ cạnh cột sống co cứng. Có trường hợp đau rất dữ dội và người bệnh phải nằm bất động về bên đỡ đau.

3. Nguyên nhân thoát vị đĩa đêm.

Cơ chế thoát vị đĩa đệm như sau: Bình thường đĩa đệm nằm ở khe giữa hai đốt sống, có lớp vỏ sợi bọc nhân nhày ở trung tâm (nhân tủy). Nhờ tính đàn hồi, đĩa đệm làm nhiệm vụ như một bộ phận giảm xóc, bảo vệ cột sống khỏi bị chấn thương. Nếu có một lực tác động mạnh vào cột sống (chấn thương, gắng sức…), nhân nhày có thể qua chỗ rách của đĩa đệm thoát vị ra ngoài chui vào ống sống, chèn ép rễ thần kinh gây đau cột sống. Khi đĩa đệm nào đó bị rách hoặc đứt, những chất dạng gel bên trong nó sẽ tràn ra ngoài. Hiện tượng này được gọi là thoát vị nhân tủy – hay thoát vị đĩa đệm.

Có nhiều nguyên nhân gây nên thoát vị đĩa đệm cột sống. Một số nguyên nhân chủ yếu gồm:

– Thoát vị đĩa đệm do sai tư thể:
Nguyên nhân phổ biến là tư thế sai trong lao động, vận động và hoạt động. Cơn đau thường xuất hiện khi ta nhấc vật nặng ở tư thế không phù hợp. Tư thế lao động, tư thế ngồi, mang vác nặng sai cách đặc biệt hay gặp nhất là việc bê vác vật nặng. Ví dụ: Thay vì ngồi xuống bê vật rồi từ từ đứng lên, nhiều người có thói quen đứng rồi cúi xuống, nhấc vật nặng lên.

Việc mang vác nặng sai tư thế này dễ gây chấn thương đốt sống lưng, thoát vị đĩa đệm. Không chỉ bê vác nặng, mà nhiều thói quen sinh hoạt hàng ngày cũng ảnh hưởng xấu tới xương khớp như tư thế ngồi gây cong vẹo cột sống, tập thể dục không đúng cách gây thoái hoá khớp, trật khớp……

– Nguyên nhân do nguyên nhân do thoái hoá tự nhiên:
Tuổi tác và các bệnh lý cột sống bẩm sinh hay mắc phải như gai đôi cột sống, gù vẹo, thoái hóa cột sống cũng là các yếu tố thuận lợi để gây bệnh. Những người ở độ tuổi từ 30 đến 50 là có nguy cơ bị thoát vị cao nhất do những thành phần nước và đàn hồi bên trong nhân tủy sẽ giảm đi theo tuổi.

Những người trên 30 tuổi, đĩa đệm thường không còn mềm mại, nhân nhày có thể bị khô, vòng sụn bên ngoài xơ hóa, rạn nứt và có thể rách. Trên cơ sở đó nếu có một lực tác động mạnh vào cột sống (chấn thương, gắng sức…), nhân nhày có thể qua chỗ rách của đĩa đệm thoát vị ra ngoài chui vào ống sống, chèn ép rễ thần kinh gây đau cột sống.

– Nguyên nhân do bị tai nạn hay các chấn thương cột sống:
Tổn thương đĩa đệm cũng có thể do nguyên nhân di truyền. Nếu bố mẹ có đĩa đệm yếu do bất thường về cấu trúc thì con cái cũng dễ bị thoát vị đĩa đệm.

4. 02 loại bệnh thoát vị đĩa đệm thường gặp.

Cột sống được chia làm 3 đoạn: cột sống cổ, cột sống ngực và cột sống thắt lung. Thoát vị đĩa đệm chủ yếu gặp ở đoạn cột sống cử động nhiều như ở cổ và thắt lung, đoạn cột sống ngực ít cử động nên rất ít khi bị thoát vị đĩa đệm.

4.1 Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ.

Bệnh lý thoát vị đĩa đệm cốt sống cổ thường gặp ở bệnh nhân lớn tuổi có thoái hoá đĩa đệm kèm theo, lứa tuổi trung bình thường gặp trên dưới 50 tuổi. Theo kết quả nghiên cứu của Bệnh viện Xây dựng – Bộ Xây dựng năm 2014, tỷ lệ mắc bệnh của nam giới chiếm 53,8%, nữ giới là 49,7%.

Đau, mỏi cột sống cổ là biểu hiện đầu tiên của thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, đau lan ra vai, cánh tay, cẳng tay của một hoặc hai bên nếu thoát vị ở cột sống cổ thấp. Hoặc đau lên đầu vùng chẩm ở những thoát vị cột sống cổ cao. Bên cạnh đó, rối loạn cảm giác là triệu chứng thoát vị đĩa đệm cột sống cổ thường gặp và xuất hiện cùng vị trí đau.

Xem thêm >>> Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ tổng quan chi tiết về thoát vị đĩa đệm cột sống cổ

4.2 Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng

Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng thường xảy ra ở nhóm tuổi từ 40 tới 60 tuổi. Đây là lứa tuối lao động chính nên khi mắc bệnh không những ảnh hưởng tới đời sống kinh tế của bản thân và gia đình mà còn ảnh hưởng tới xã hội.

Triệu chứng thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng có 2 hội chứng quan trọng: Hội chứng cột sống và hội chứng rễ thần kinh.

Mức độ biểu hiện của các triệu chứng của hội chứng cột sống và hội chứng rễ thần kinh phụ thuộc vào yếu tố khởi phát bệnh, giai đoạn bệnh và mức độ thoát vị đĩa đệm.

Bệnh nhân bị đau thắt lưng và các đợt đau ngày càng tăng và kéo dài và thường bắt đầu do khênh đồ nặng, chấn thương, vặn lưng vô ý và người bệnh cảm thấy có tiếng khục ở thắt lưng. Thông thường, các cơn đường gia tăng lên khi vận động, đau lan xuống chân, tăng lên khi ho hoặc hắt hơi.

Rối loạn cảm giác là triệu chứng thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng xuất hiện giai đoạn muộn, tổn thương nặng

Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng

Rối loạn phản xạ gân xương, thường gặp là giảm phản xạn gân bánh chè

Hội chứng đuôi ngựa là tình trạng tổn thương nhiều rễ thần kinh vùng đuôi ngựa với ba triệu chứng: Rối loạn cơ thắt, rối loạn vận động và rối loạn cảm giác vùng tầng sinh môn ( yếu hoặc liệt hai chi dưới, đặc biệt là cẳng chân và bàn chân, teo cơ)

Xem thêm >>> Tổng quan chi tiết thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng

5. Cách chữa điều trị thoát vị đĩa đệm

Thoát vị đĩa đệm có nhiều phương pháp điều trị, từ phương pháp điều trị bảo tồn (nội khoa) đến phương pháp điều trị phẫu thuật (ngoại khoa)

5.1 Chữa bệnh thoát vị đĩa đệm bằng nội khoa:
Đây là phương pháp phổ biến, chiếm 70-80% trong các liệu trình điều trị, thường được áp dụng ở giai đoạn bao xơ đĩa đệm chưa bị rách (phồng lồi đĩa đệm). Điều trị nội khoa có tỷ lệ thành công lên tới 95% nếu điều trị đúng cách, đúng chỉ định.

Mục đích của điều trị nội khoa là giảm đau, hết dị cảm, phục hồi chức năng vận động, đồng thời tạo điều kiện cho phần đĩa đệm bị thoát vị co bớt lại làm giảm mức độ chèn ép rễ thần kinh.

Đối với bệnh nhân đang bị đau: dùng thuốc chống viêm, giảm đau như paracetamol (trường hợp nhẹ) hay thuốc non steroid hoặc tiêm ngoài màng cứng, quanh rễ thần kinh (trường hợp đau nặng). Tuy nhiên cần lưu ý các thuốc này có tác dụng phụ, nếu như không dùng đúng chỉ định hay thường xuyên lạm dụng thuốc có thể ảnh hưởng đến dạ dày, chức năng gan, thận.

Ngoài dùng thuốc, chúng ta có thể sử dụng vật lý trị liệu để chữa bệnh thoát vị đĩa đệm như kéo giãn cột sống, xoa bóp, cấy chỉ, đeo đai lưng…)

Bên cạnh chữa bệnh thoát vị đĩa đệm theo phương pháp nội khoa Tây y thì có thể chữa bệnh thoát vị đĩa đệm bằng đông y. Trong đông y cũng có phương pháp điều trị dùng thuốc và không dùng thuốc, trong những trường hợp cần thiết chúng ta cần phối hợp nhiều phương pháp với nhau. Tuy thời gian điều trị bằng đông y thường kéo dài hơn nhưng được đánh giá khá cao về hiệu quả, tính bền vững, ổn định sau điều trị và đặc biệt an toàn cho người bệnh, không có tác dụng phụ gây tổn hại như thuốc tây y

5.2 Chữa bệnh thoát vị đĩa đệm bằng phẫu thuật (ngoại khoa)
Điều trị ngoại khoa được chỉ định trong những trường hợp như điều trị nội khoa thất bại, gây chèn ép rễ thần kinh cấp tính hay thoát vị đĩa đệm gây rách bao xơ. Phẫu thuật ngoại khoa cũng có nhiều cách: mổ mở hoặc phẫu thuật ít xâm lấn. Với mổ ở thì chi phí thấp nhưng đường mổ lớn gây tổn thương giải phẫu lớn, nguy cơ mất nhiều máu, nhiễm trùng sau mổ, nguy cơ mất vững cuộc sống… Còn phẫu thuật ít xâm lấn như lấy nhân thoát vị đĩa đệm qua da hay qua hệ thống ống nong, sử dụng sóng cao tần tái tạo nhân đĩa đệm… thì có ưu điểm là vết mổ nhỏ hơn, thời gian nằm viện ngắn hơn nhưng chi phí khá lớn và có chỉ định chặt chẽ (lựa chọn bệnh nhân chính xác), phải có trang thiết bị chuyên dụng, phẫu thuật viên chuyên sâu…

5.3 Điều trị thoát vị đĩa đệm kết hợp dùng thực phẩm chức năng.
Ngày nay thực phẩm chức năng đã và được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống hàng ngày ngoài bảo vệ và nâng cao sức khỏe ra thì các loại TPCN còn có vai trò hỗ trợ điều trị rất hiệu quả và đã được nhiều chuyên gia y tế khuyên người bệnh nên sử dụng các loại TPCN này lâu dài.

 

Đặc biệt người bệnh thoát vị đĩa đệm và người bắt đầu có những triệu chứng, biểu hiện bệnh thoái hóa khớp nên dùng các thực phẩm chức năng bổ xung hàng ngày có chứa các thành phần sau đây để bảo vệ cũng như hỗ trợ điều trị hiệu quả bệnh thoát vị đĩa đệm

– Glucosamin:
Là thành phần cấu tạo nên sụn và glucosamin là chất có trong thành phần phân tử của ít nhất 2 glucosaminoglycans: chondroitin và acid hyaluronic. Vì thế glucosamin đóng vai trò đồng hóa trong quá trình kiểm soát bệnh viêm xương khớp và kích thích tế bào sụn tổng hợp glucosaminoglycans và proteoglycan.

– Chondroitin sulfat:
Tìm thấy ở sụn khớp, xương, da, giác mạc mắt và thành động mạch. Chondroitin sulfat có tác dụng hỗ trợ điều trị các bệnh lý về xương khớp, đặc biệt là bệnh viêm xương khớp. Bảo vệ khớp bằng cách tăng cường các enzym tổng hợp acid hyaluronic (là chất giúp khớp hoạt động tốt).

Methyl sulfonyl methane (MSM): nguồn bổ sung sulfur tự nhiên, đặc biệt khi cơ thể không được cung cấp đủ giúp phòng hoặc hỗ trợ điều trị bệnh viêm khớp mãn tính. MSM tác dụng như một dẫn chất cộng hưởng với tác dụng của Glucosamine và Chondroitine có khả năng giảm đau, kháng viêm, tăng cường sức khỏe ở người bị ốm.

– Hyaluronic Acid:
Là thành phần quan trọng trong chất nhờn bôi trơn cho sức khỏe của sụn và khớp, da, mắt và tim, là những cơ quan đòi hỏi vận động nhiều và chịu đựng ma sát nhiều. Ở hệ thống khớp, Hyaluronic Acid là một trong những thành phần không thể thiếu trong dịch khớp để bảo vệ khớp không bị thoái hóa.

– Collagen Type II tự nhiên:
Đây là một dạng collagen Type II không biến tính (với tên gọi khác là phức hợp UC-II) là thành phần chính của sụn khớp chiếm 90% các sợi collagen có trong chất căn bản của sụn khớp, không bị biến tính khi tiếp xúc với dịch tiêu hóa giúp cơ thể hấp thu tốt. Collagen type 2 thiên nhiên giúp nuôi dưỡng sụn, tạo chất nhờn, tăng độ bền, dẻo dai cho khớp, tăng sức mạnh liên kết cơ-gân-sụn khớp.

Colagen type II có tác dụng kháng viêm, giảm đau hiệu quả, kích hoạt hệ thống miễn dịch và bảo vệ khớp. Collagen type II là một dạng thực phẩm chức năng mới cung cấp tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết để tăng cường sức khỏe của khớp, sụn và sữa chữa các hư hỏng ở khớp là nguyên nhân gây ra đau, sưng liên quan đến các bệnh viêm khớp. Collagen type 2 có tác dụng ngăn cản lão hóa và thoái hóa khớp theo 2 cách: và bảo vệ các đầu khớp xương làm cho xương chuyển động trơn tru tại các khớp.

– Boswellia Extract:
Boswellia Extract đã được thử nghiệm lâm sàng cho kết quả rõ rệt trong các bệnh viêm mãn tính như viêm khớp dạng thấp, viêm xương khớp, hen phế quản, viêm loét đại tràng và bệnh Crohn. Triển vọng trong tác dụng giảm đau và chống viêm mạnh trong bệnh viêm khớp, phòng chống ung thư…

– Bột rễ Gừng:
Bột rễ gừng là một loại thảo dược chống viêm mạnh mẽ và gần đây đã có nhiều quan tâm đến việc sử dụng nó cho các vấn đề về khớp, đặc biệt là thấp khớp. Nó cũng đã được chỉ định cho viêm khớp, sốt, nhức đầu, đau răng, ho, viêm phế quản, viêm xương khớp, viêm khớp dạng thấp, để giảm bớt viêm gân, giảm cholesterol và huyết áp…

6. Những ai dễ bị thoát vị đĩa đệm
Theo khảo sát cho thấy tỷ lệ nam mắc bệnh thoát vị đĩa đệm nhiều hơn nữ và thường chiếm khoảng 82%. Trên 90% những người trong độ tuổi lao động, dao động từ 20 – 49 tuổi dễ mắc bệnh hơn người bình thường.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng những nghề nghiệp khiến cột sống phải vận động quá giới hạn sinh lý, làm việc trong tư thế gò bó, chấn động mạnh, sai tư thế thường xuyên chính là những yếu tố nguy cơ chính dẫn tới thoát vị đĩa đệm.

Người lao động nặng nhọc.
Công nhân bốc vác, thợ xây dựng, thợ cơ khí thường xuyên phải mang vác, khiêng, bê vật nặng nên cột sống phải chịu tải trọng lớn.

Người có thói quen hay xách vật nặng một tay như thợ hồ, xách nước… có nguy cơ thoát vị đĩa đệm cao hơn người xách cân đối bằng hai tay.

Lái xe
Đặc biệt là những người lái xe tải đường dài và lái máy xây dựng, máy ủi, máy xúc… hay bị thoát vị đĩa đệm. Nguyên nhân là do đặc thù của công việc, những người này thường phải ngồi trên xe trong suốt thời gian làm việc nên các rung động, dằn xóc sẽ tác động liên tục lên cột sống.Mặt khác, những người này luôn phải ngồi lâu ở một tư thế khiến dinh dưỡng cho đĩa đệm kém.

Nhân viên văn phòng.
Tỉ lệ thoát vị đĩa đệm trong giới văn phòng ngày càng gia tăng. Khác với nhóm lao động nặng có nguy cơ thoát vị đĩa đệm do chấn thương cao, nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm đối với đối tượng nhân viên văn phòng là do họ ngồi làm việc quá lâu ở một tư thế khiến đĩa đệm không được nuôi dưỡng nên sớm dẫn đến thoái hoá.

Đĩa đệm bình thường không có mạch máu nuôi dưỡng mà được cung cấp chất dinh dưỡng thông qua quá trình thẩm thấu.Khi cơ thể duy trì ở trạng thái ngồi quá lâu thì áp suất nội đĩa không thay đổi khiến quá trình thẩm thấu và nuôi dưỡng khó xảy ra.

Những người chơi thể thao.
Ngoài ra, những người chơi thể thao, đặc biệt là cử tạ do đĩa đệm chịu sức ép quá lớn nhanh chóng bị thoái hóa và dẫn tới thoát vị.

7. Tác hại của bệnh thoát vị đĩa đệm.

Bệnh thoát vị đĩa đệm có nguy hiểm không? đó là những thắc mắc mà chắc chắn rằng khi có những triệu chứng của bệnh chúng ta sẽ nghĩ tới.

Thoát vị đĩa đệm cột sống là một bệnh khá thường gặp, có thể để lại nhiều hậu quả, ảnh hưởng đến cuộc sống và sinh hoạt của người bệnh. Khả năng vận động của bệnh nhân bị giảm sút rõ rệt. Bệnh nhân rất khó thực hiện các động tác cột sống như cúi ngửa, nghiêng xoay. Khi rễ thần thần kinh bị tổn thương thì bệnh nhân khó vận động các chi.

Nếu tổn thương thần kinh cánh tay thì bệnh nhân không thể nhấc tay hay khó gấp, duỗi cánh tay, khả năng lao động và sinh hoạt bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nếu tổn thương thần kinh tọa thì bệnh nhân có thể không nhấc được gót hay mũi chân. Dần dần xuất hiện teo cơ chân bên tổn thương. Khi bệnh nặng người bệnh thấy chân tê bì, mất cảm giác ở chân đau hay đại, tiểu tiện không kiểm soát được.

Thoát vị đĩa đệm có thể để lại những hậu quả và những biến chứng nguy hiểm cho người bệnh.

Bệnh nhân có thể bị tàn phế suốt đời do bị liệt trong trường hợp đĩa đệm thoát vị chèn ép tuỷ cổ. Khi bị chèn ép các dây thần kinh vùng thắt lưng cùng, bệnh nhân có thể bị chứng đại tiểu tiện không tự chủ do rối loạn cơ tròn.
Bệnh nhân bị teo cơ các chi nhanh chóng, khiến sinh hoạt bị ảnh hưởng nghiêm trọng, thậm chí mất khả năng lao động. Tất cả các biến chứng đó ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của người bệnh, chưa kể những tốn kém do chi phí điều trị.

Ngoài ra thoát vị đĩa đệm còn có thể gây là một số bệnh khác như:

Đau rễ thần kinh phản ánh một quá trình tổn thương kích thích rễ thần kinh do chèn ép cơ học, xuất hiện sau giai đoạn đau thắt lưng cục bộ, đau tăng lên khi đi lại, đứng lâu, ngồi lâu. Đau dội mạnh lên khi ho, hắt hơi, rặn đại tiện. Nằm nghỉ tại giường lại giảm đau nhanh chóng. Đó là kiểu đau mang tính chất cơ học, thường gặp trong cơ chế xung đột giữa đĩa đệm với rễ thần kinh do thoát vị đĩa đệm. Rối loạn cảm giác thường gặp là giảm cảm giác nông (nóng, lạnh, xúc giác) ở những khu vực khoang da tương ứng với rễ thần kinh bị tổn thương. Đây là biểu hiện mức độ tổn thương sâu sắc của rễ thần kinh.

Hội chứng đau khập khễnh cách hồi: Là một dạng đau rễ thần kinh ngắt quãng, nó xuất hiện khi đi được một đoạn làm bệnh nhân phải dừng lại để nghỉ. Khi đi tiếp một đoạn nữa, đau lại xuất hiện, buộc bệnh nhân phải nằm nghỉ.

Rối loạn vận động: bại và liệt cơ ở hai chân do rễ thần kinh chi phối bao gồm rối loạn cơ thắt: trong tổn thương các rễ vùng xương cùng có biểu hiện lúc đầu bí tiểu sau đái dầm dề, luôn luôn có nước tiểu chảy rỉ ra một cách thụ động do liệt cơ thắt kiểu ngoại vi không giữ được nước tiểu.

Hội chứng đuôi ngựa với biểu hiện gồm đau một cách dữ dội, người bệnh không thể chịu nổi, đòi hỏi cấp cứu về thần kinh. Đau lại kèm theo liệt cơ, mất cảm giác, rối loạn cảm giác… Trường hợp chứng đuôi ngựa dưới có thể rối loạn cơ thắt kiểu ngoại vi, rối loạn cảm giác vùng đáy chậu, không có liệt hoặc chỉ liệt một số động tác của bàn chân. Đối với trường hợp hội chứng đuôi ngựa giữa thì có triệu chứng liệt gấp cẳng chân, liệt các động tác của bàn chân và ngón chân, mất cảm giác toàn bộ ngón chân; mất cảm giác toàn bộ cẳng chân, bàn chân, mặt sau đùi và mông; rối loạn cơ thắt kiểu ngoại vi..

8. Cách phòng tránh bệnh thoát vị đĩa đệm.

Để phòng tránh thoát vị đĩa đệm cần phải rèn luyện một cơ thể khỏe mạnh và đặc biệt là một cột sống vững chắc, ngay từ tuổi trẻ bằng chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý.

Điều quan trọng là biết giữ gìn tư thế cột sống đúng trong sinh hoạt hằng ngày. Trẻ em cần ngồi học đúng tư thế, tránh mang vác nặng. Điều đó giúp phòng tránh tật gù vẹo cột sống, là một yếu tố nguy cơ gây thoát vị đĩa đệm. Người trưởng thành cần chú ý tránh khiêng vác vật nặng, nhất là bê vật nặng ở tư thế cúi lom khom.

Hiện nay các nhân viên văn phòng thường ngồi làm việc liên tục hàng giờ liền bên máy vi tính. Điều đó làm cho cơ vai, cổ phải co cứng thường xuyên để giữ đầu cố định, gây chứng đau vai, gáy. Ngoài ra cột sống cổ cũng phải gánh tải trọng của đầu trong thời gian dài, làm tăng áp lực lên đĩa đệm. Kết quả là đĩa đệm cột sống cổ dễ bị thoái hóa và thoát vị. Ngồi lâu kéo dài trong tư thế gò bó cũng ảnh hưởng tiêu cực đến cột sống thắt lưng và cũng là yếu tố nguy cơ thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng.

Do vậy sau khi ngồi khoảng 1 giờ cũng nên đứng dậy nghỉ ngơi 5-10 phút, vừa bảo vệ mắt lại vừa giữ gìn đĩa đệm cột sống. Cũng cần tránh mọi chấn thương cho cột sống, tránh ngã dồn mông xuống đất. Tránh tuyệt đối các động tác thể thao hoặc vận động quá mức và kéo dài.

Khi đã bị thoát vị đĩa đệm rồi thì cần phải áp dụng bổ sung các biện pháp dự phòng bệnh tái phát. Bệnh nhân cần bỏ rượu, thuốc lá, giảm cân với những người béo phì, tránh những căng thẳng quá mức về tâm lý.Thực hiện các động tác sinh hoạt hằng ngày thích nghi với tình trạng đau cột sống thắt lưng.

Để tránh tải trọng quá mức lên cột sống, bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng cần đeo đai lưng hay bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống cổ cần đeo yếm cổ.

Cần tập thể dục nhẹ nhàng thường xuyên, không quá sức để nâng cao thể lực. Bệnh nhân bị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng cần áp dụng các bài tập tăng cường sự dẻo dai của các khối cơ lưng và cơ bụng.

Có thể đi bộ trên nền phẳng, bơi, đạp xe. Cần chú ý rằng đi xe máy, ô tô trên đường xóc, mấp mô cũng là một nguy cơ gây thoát vị đĩa đệm cột sống. Do vậy người bị thoát vị đĩa đệm cần tránh đi xe đường xóc. Nếu cần phải đi ô tô, xe máy thì cần đeo đai lưng.

Ngoài ra cần điều trị kịp thời các bệnh lý cột sống. Cần cải thiện điều kiện làm việc, hạn chế các sang chấn về tinh thần, chấn thương do lao động. Thích nghi với nghề nghiệp: tránh các nghề như lái mô tô, máy kéo…

9. Chế độ chăm sóc người bệnh thoát vị đĩa đệm

Thoát vị đĩa đệm nên ăn gì và không nên ăn gì
Bổ sung cá hồi, cá ngừ. Đây là những loại cá tốt cho xương khớp vì chứa acid béo omega – 3. Chất này sau khi đi vào cơ thể sẽ biến đổi thành Prostaglandin, hoạt chất giữ vai trò chủ yếu trong chuỗi phản ứng kháng viêm.

Gia tăng khẩu phần ăn có tôm, cua đồng…vì chúng chứa nhiều calci giúp hệ xương khớp trong cơ thể bạn thêm dẻo dai và chắc khoẻ.

Gia tăng dùng nước hầm từ xương vì chúng chứa nhiều Glucosamine và chondroitin, Hyaloricacit Đây là những hợp chất tự nhiên có tác dụng giúp sụn chắc khoẻ.

Tăng cường ăn rau củ tốt cho xương, khớp như: Cà rốt, súp lơ, nấm hương, mộc nhĩ… thường giàu vitamin A, E là những yếu tố cần thiết để bảo vệ bao khớp và đầu xương chống lão hoá…

Nên bổ sung thêm sữa đậu nành, ngũ cốc vốn có nhiều vitamin, khoáng chất và calci vào bữa ăn để hệ xương khớp lâu bị lão hoá.

Hạn chế những thực phẩm giàu đạm, chất béo. Nếu ăn quá nhiều đạm sẽ làm tăng sự đào thải calci qua thận, tăng nguy cơ gãy xương.

Thói quen sinh hoạt hàng ngày
Nên tạo thói quen tập các môn thể dục phù hợp với sức khoẻ và lứa tuổi để hệ xương thêm mềm dẻo, các khớp cũng linh hoạt hơn.

Làm việc trong tư thế lưng thẳng, vai đều cân đối, mắt nhìn thẳng.
Để nâng một vật nặng, không nên nghiêng thân về phía trước và tránh cử động xoắn lệch người làm mất thăng bằng gây tác dụng không tốt với khung xương.

“Thông tin chỉ mang tính chất tham khảo, việc khám chữa bệnh cẩn phải có sự chỉ dẫn của bác sĩ, chuyên gia y tế”

Hi vọng với bài viết tổng quan này đã cung cấp được cho bạn đọc những thông tin hữu ích nhất. Kính chúc các bạn thật nhiều sức khỏe, niềm vui trong cuộc sống, xin chân thành cảm ơn. !

Xem thêm >>> Thuốc xương khớp tốt nhất của Mỹ hiệu quả nhập khẩu 100%

Facebook Comments